Tối ưu hóa tốc độ quạt làm mát | PrintCalcLab

Tốc độ quạt làm mát được khuyến nghị theo vật liệu, chiều cao lớp và góc nhô.

Làm mát chi tiết là một sự thương lượng theo từng vật liệu: PLA muốn một cơn bão, ABS muốn không khí gần như tĩnh lặng, và mọi thứ khác nằm ở khoảng giữa. Tốc độ quạt phù hợp cũng dịch chuyển theo hình học và thiết lập — phần nhô dốc và lớp mỏng, nhanh cần thêm luồng khí mà bản in tường phẳng không cần. Bộ tối ưu này bắt đầu từ tốc độ nền theo vật liệu và thêm các điều chỉnh cho góc nhô, tốc độ in và chiều cao lớp, tạo ra một tỉ lệ khởi đầu có cơ sở thay vì phỏng đoán.

Cách hoạt động

Mỗi vật liệu mang một tốc độ quạt nền: 100% cho PLA, 30% cho PETG và TPU, 20% cho Nylon và HIPS, 10% cho ASA, và 0% cho ABS và PC, vì độ bám lớp và khả năng chống cong vênh của chúng sụp đổ dưới sự làm mát mạnh. Sau đó công cụ thêm 20% cho phần nhô dốc hơn 45° hoặc 40% vượt quá 60°, 10% khi in nhanh hơn 80 mm/s, và thêm 10% nữa cho lớp mỏng hơn 0,15 mm, giới hạn kết quả cuối ở 100%. Ví dụ, một bản in PETG với phần nhô 50° ở 90 mm/s và lớp 0,12 mm rơi vào 30 + 20 + 10 + 10 = 70%.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên in ABS với quạt tắt?

ABS co lại mạnh khi nguội, và luồng khí cưỡng bức khiến bề mặt co nhanh hơn bên trong, dẫn đến cong vênh và liên kết lớp yếu. Vì vậy tốc độ nền của công cụ này cho ABS — như polycarbonate — là 0%, chỉ thêm luồng khí khi hình học như phần nhô dốc đòi hỏi.

Tại sao phần nhô cần làm mát nhiều hơn?

Các đường biên nhô được đặt một phần lên không khí, nên chúng phải hóa rắn trước khi trọng lực và sức căng bề mặt kéo chúng xuống. Bộ tối ưu thêm 20% quạt trên 45° phần nhô và 40% trên 60°, nơi mỗi lớp mới có rất ít nhựa đỡ bên dưới.

Tại sao in nhanh và lớp mỏng làm tăng tốc độ quạt?

Trên 80 mm/s, đường biên kế tiếp đến trước khi đường trước đó tỏa hết nhiệt, và dưới 0,15 mm số lớp nhân lên nên nhiệt được đưa đến cùng vùng thường xuyên hơn. Mỗi điều kiện thêm 10% luồng khí trong mô hình này.

Tỉ lệ khuyến nghị có phải quy tắc cứng không?

Đó là điểm khởi đầu được xây từ hành vi vật liệu phổ biến. Vỏ bao, thiết kế ống dẫn và nhiệt độ môi trường đều thay đổi lượng làm mát thực sự đến chi tiết, nên hãy tinh chỉnh đầu ra bằng một bản in thử nhỏ — đặc biệt với vật liệu dễ cong vênh.

Chủ đề liên quan